Học viện tư pháp

Học viện Tư pháp được thành lập theo Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg ngày 25 tháng 2 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ. Học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Tư pháp, hoạt động theo Điều lệ trường đại học; là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu hình quốc huy, có tài khoản riêng, có trụ sở tại Hà Nội và Cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh.
· Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt: Học viện Tư pháp
· Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Anh: Judicial Academy
· Trụ sở: Phố Phan Văn Trường, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
· Điện Thoại: (04) 7566129
· Fax: (04) 8361267
Chức năng, nhiệm vụ
· Đào tạo nghiệp vụ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên và các chức danh tư pháp khác;
· Bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Công
chứng viên, Luật sư và cán bộ có chức danh tư pháp thuộc thẩm quyền quản
lý của Bộ Tư pháp;
· Nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có chức danh Tư pháp;
· Hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong việc đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học.
Cơ cấu tổ chức của Học viện
Cơ cấu tổ chức của Học viện bao gồm:
a) Hội đồng Học viện
Hội đồng Học
viện là thiết chế quản trị của Học viện, quyết nghị các chủ trương lớn
liên quan đến hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp. Tổ chức và hoạt
động của Hội đồng Học viện theo quy định pháp luật.
b) Giám đốc và các Phó Giám đốc
Giám đốc Học
viện chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tư pháp và trước pháp luật về
việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao của Học viện.
Các Phó Giám
đốc Học viện giúp Giám đốc quản lý, điều hành hoạt động của Học viện;
được Giám đốc phân công quản lý một số lĩnh vực, nhiệm vụ công tác;
chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về những lĩnh vực
công tác được phân công.
c) Hội đồng Khoa học và Đào tạo
Hội đồng
khoa học và Đào tạo của Học viện bao gồm: Giám đốc, một số Phó Giám
đốc, các Trưởng khoa, Trưởng phòng Đào tạo và Thủ trưởng một số đơn vị
thuộc Học viện; các Giáo sư, Phó Giáo sư, một số giảng viên, cán bộ
hoạt động khoa học của Học viện.
Hội đồng
Khoa học và Đào tạo hoạt động theo các quy định của “Điều lệ trường đại
học” ban hành kèm theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7
năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ và các quy định pháp luật khác có liên
quan.
d) Các đơn vị chức năng thuộc Học viện
- Cơ sở tại
thành phố Hồ Chí Minh: Cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh có tư cách pháp
nhân, có con dấu và tài khoản riêng là đơn vị dự toán kinh phí cấp 3;
- Phòng Tổ chức cán bộ;
- Phòng Hành chính - Tổng hợp;
- Phòng Đào tạo;
- Phòng Công tác học viên;
- Phòng Tài chính - Kế toán;
- Phòng Quản trị;
- Phòng Hợp tác quốc tế;
- Khoa Đào tạo Thẩm phán;
- Khoa Đào tạo Kiểm sát viên;
- Khoa Đào tạo Luật sư;
- Khoa Đào tạo Chấp hành viên;
- Khoa Đào tạo Công chứng viên và các chức danh tư pháp khác;
- Trung tâm Tin học;
- Trung tâm Thông tin và Nghiên cứu khoa học;
- Trung tâm Tư vấn pháp luật;
- Trung tâm đào tạo luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế;
- Trung tâm bồi dưỡng cán bộ.
Việc thành
lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị chức năng thuộc Học viện
do Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Học
viện và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Việc thành
lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị dịch vụ của Học viện do
Giám đốc quyết định theo quy định của pháp luật về chế độ tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối
với đơn vị sự nghiệp công lập..
đ) Tổ chức Đảng, các đoàn thể và tổ chức xã hội
Học viện có tổ chức Đảng, các đoàn thể và tổ chức xã hội sau:
- Đảng bộ Học viện Tư pháp;
- Công đoàn Học viện Tư pháp;
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Học viện Tư pháp;
- Chi hội Cựu chiến binh Học viện Tư pháp;
- Chi hội Luật gia Học viện Tư pháp.
Đảng bộ, các
đoàn thể và tổ chức xã hội của Học viện Tư pháp được thành lập, tổ
chức và họat động theo điều lệ của Đảng, điều lệ của các đoàn thể, tổ
chức xã hội và theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Quy mô đào tạo
Giai đoạn năm 2004 đến hết năm 2006:
· Đào tạo thẩm phán: 500 người/ năm;
· Đào tạo kiểm sát viên: 200 người/năm (tăng lên đến 300 người/năm kể từ năm 2005 trở đi);
· Đào tạo luật sư: 2.000 người/năm;
· Đào tạo chấp hành viên: 300 người/năm;
· Đào tạo công chứng viên:100 người/năm.
Giai đoạn từ năm 2007 trở đi:
· Đối với chương trình chung cho thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư: Đào tạo 2.500 người/năm;
· Đối
với các chức danh tư pháp khác: Đào tạo 1.000 người/năm và có thể
nghiên cứu đào tạo các chức danh trọng tài viên, giám định viên.
Nguyên lý đào tạo
Trong
quá trình trưởng thành và phát triển của mình Học viện Tư pháp đã xây
dựng và đúc kết được những nguyên lý đào tạo rất hữu ích trong công tác
đào tạo và bồi dưỡng các chức danh tư pháp. Những nguyên lý này đã trở
thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình giảng dạy, xây dựng
chương trình, giáo trình, hồ sơ
tài liệu phục vụ giảng dạy và các hoạt động có liên quan đến công tác
đào tạo và bồi dưỡng các chức danh tư pháp của Học viện cụ thể như sau:
· Không giảng lý thuyết thuần tuý mà chỉ cập nhật kiến thức mới;
· Sử dụng hồ sơ thực tế để rèn luyện kỹ năng và nhắc lại lý thuyết;
· Học bài thông qua diễn án – “simulation”
· Học bài thông qua làm công việc thực tế – “learning by doing” tại Trung tâm thực hành nghề luật của Học viện;
· Học bài thông qua quá trình làm bài thi;
· Rèn luyện kỹ năng nói thông qua thi hùng biện;
· Rèn luyện kỹ năng viết thông qua viết tiểu luận, soạn thảo văn bản tố tụng.
Phương pháp giảng dạy
Là một loại hình đào tạo mới ở nước ta, trên cơ sở những nguyên lý đào tạo đã nêu trên phương
pháp giảng dạy trong đào tạo thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp
hành viên và các chức danh Tư pháp khác của Học viện Tư pháp lấy việc
truyền nghề, cung cấp và rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết của
hoạt động tư pháp cho học viên làm mục tiêu. Vì thế việc tổ chức học
tập có nhiều điểm khác biệt so với đào tạo ở bậc đại học. Các lớp học
được chia nhỏ để thuận tiện cho việc rèn luyện kỹ năng. Trung bình một
lớp không quá 25 người. Phương pháp giảng dạy cũng hoàn toàn khác so với đào tạo ở bậc đại học. Ở
bậc đại học, giảng viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình do một
giảng viên thực hiện còn ở Học viện Tư pháp chủ yếu áp dụng phương
pháp song giảng; giảng bằng phiếu kỹ thuật và giải quyết tình huống
(một giảng viên lý thuyết và một giảng viên thực hành cùng giảng). Giảng
viên đóng vai trò người hướng dẫn gợi mở cho học viên; nhận xét và tổng
kết việc xử lý các tình huống, giải quyết các bài tập của học viên; rèn
luyện khả năng tư duy độc lập cho học viên là chính. Học viên được rèn
luyện kỹ năng giải quyết công việc và tác phong làm việc khoa học của
người cán bộ tư pháp. Ngoài ra học viên còn được rèn luyện kỹ năng thông
qua các buổi học diễn án. Đây là một phương pháp đào tạo hoàn toàn mới.
Phương pháp này sử dụng các hồ sơ vụ việc thực tế để rèn luyện kỹ năng
cho học viên.
Giảng viên
Ngoài
đội ngũ giảng viên của Học viện, giảng viên giảng dạy cho các khoá đào
tạo chủ yếu đến từ Bộ Tư pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân
thành phố Hà Nội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện nghiên cứu Nhà
nước và pháp luật, các Toà án nhân dân các địa phương, Phòng Công chứng,
Phòng Thi hành án, Đoàn Luật sư, Hội Luật gia, các văn phòng Luật và
các cơ quan có liên quan khác. Phần lớn giáo viên tham gia giảng dạy đều
rất nhiệt tình, có chuyên môn cao, có kinh nghiệm thực tiễn và có
phương pháp giảng dạy khoa học. Nhiều người có học hàm, học vị, là những
chuyên gia đầu ngành trong hoạt động nghề. Hiện nay, số lượng giáo viên
đã và đang tham gia giảng dạy cho các khoá đào tạo đã lên đến hơn 300
người, trong đó, hơn 50% là các Thạc sỹ, Tiến sỹ. Các giáo viên là Bộ
trưởng, Thứ trưởng, Chánh án Toà án nhân dân, Phó Chánh án Toà án nhân
dân, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư, Chủ tịch Hội Luật gia, Vụ trưởng, Phó Vụ
trưởng, Cục trưởng, Phó Cục trưởng... cũng rất nhiệt tình tham gia giảng
dạy cho các khoá đào tạo.
Kiểm tra và thi đánh giá chất lượng
Kiểm tra và thi để đánh giá kết quả học tập về chuyên môn của học viên ở Học viện Tư pháp có sự khác biệt căn bản so với các cơ sở đào tạo pháp luật cơ bản khác.
Đề kiểm tra và thi của Học viện lấy dữ kiện (tình huống) từ một vụ việc thực tế làm nội dung cơ bản của đề. Sau đó trên cơ
sở những dữ kiện đó đề được phát triển bằng các tình tiết bổ sung và cứ
sau một tình tiết bổ sung là một câu hỏi để học viên giải bài kiểm tra
hoặc bài thi. Tổng hợp các dữ kiện và các tình tiết bổ sung là hình ảnh
một vụ việc từ khi bắt đầu phát sinh đến khi kết thúc. Cách giải quyết
vụ, việc khi làm bài của học viên sẽ phản ánh kết quả kiểm tra hoặc thi đúng sai đến đâu? đạt kết quả thế nào?
Đề
thi được xuất bản thành sách gọi là Ngân hàng đề thi theo từng môn học
trong đó có đáp án của từng đề làm tài liệu cho học viên học tập và đối
với học viên theo học ở Học viện thì khi kiểm tra và thi, đề thi sẽ là một trong các đề thi trong Ngân hàng đề thi của môn học đó;
Khi
tham gia kiểm tra và thi học viên được sử dụng tất cả các văn bản pháp
luật có liên quan đến môn học đó và Giáo trình của Học vịên để giải bài.
Học viên chỉ không được sử dụng Ngân hàng đề, các tài liệu khác hai
loại được sử dụng nêu trên và không được trao đổi.
Các hình thức đánh giá kết quả học tập khác: Học viên được tổ chức diễn án, thi hùng biện và thực hành tại Trung tâm thực hành nghề luật.
Kết quả đã đạt được (tính đến tháng 8 năm 2004)
Kết quả đào tạo
· Đào tạo Thẩm phán: Học viện đã đào tạo được 1.610 học viên;
· Đào
tạo Luật Sư: Học viện đã đào tạo được 3.597 học viên. Hiện đang đào tạo
lớp Luật sư Khóa III đợt 2 với 798 học viên;Trong số học viên đã đào
tạo trên có 48 người là đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo chế
độ KV0. Những đối tượng này, Học viện đào tạo không thu học phí và bố
trí chỗ ở miễn phí;
· Đào tạo nghiệp vụ Chấp hành viên: Học viện đã đào tạo được 490 học viên;
· Đào tạo Công chứng viên: Học viện đã đào tạo được 245 học viên;
· Đào tạo Thư ký Toà án: Học viện đã đào tạo được 103 học viên.
Kết quả bồi dưỡng
Học
viện đã tổ chức được 40 lớp bồi dưỡng cho 5.713 lượt học viên và tổ
chức thành công 10 khoá đào tạo lại cán bộ Pháp luật của Chính phủ trong
khuôn khổ dự án TA N02853-VIE cho cán bộ pháp lý các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước, Đoàn luật sư của các tỉnh, thành phố trong cả nước với tổng số 1.000 học viên.
Nghiên cứu khoa học
Là một cơ
sở đào tạo nghề sau đại học, để công tác đào tạo đạt kết quả cao việc
nghiên cứu khoa học được hết sức quan tâm. Ngay sau khi đi vào hoạt động
chính thức, Hội đồng khoa học của đơn
vị đã được thành lập và tiến hành công tác nghiên cứu khoa học. Đến
nay, học viện đã triển khai nghiên cứu nhiều đề tài khoa học cấp Nhà
nước, đề tài khoa học cấp Bộ và đề tài khoa học cấp cơ sở.
Hợp tác quốc tế
Hợp tác với Cộng hoà Pháp
· Hợp tác với Hội đồng công chứng tối cao Pháp và Đại học Lyon III trong việc Đào tạo Công chứng viên, Luật sư;
· Hợp tác với Nhà pháp luật Việt - Pháp;
· Hợp tác với cơ quan liên chính phủ cộng đồng Pháp ngữ;
· Hợp
tác với Trường Thẩm phán Quốc gia Pháp trong khuôn khổ dự án “ Tăng
cường năng lực cho Trường Đào tạo Các chức danh Tư pháp”.
· Trao đổi giảng viên giữa Học viện Tư pháp với Trường Đào tạo thẩm phán và Hội đồng công chứng tối cao Cộng hoà pháp;
Ngoài ra nhà trường còn hợp tác với nhiều Luật sư, Chuyên gia Pháp trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Hợp tác với Nhật Bản
· Hợp tác với đối tác Nhật Bản thông qua Bộ Tư pháp: Cử cán bộ, giảng viên đi học tại Nhật Bản; Hợp
tác với JICA trong việc: Tổ chức biên soạn Sổ tay Thẩm phán, Sổ tay
Luật sư, Ngân hàng đề của các môn luật Dân sự, kinh tế…. Phối hợp trong
việc tổ chức cho học viên Lớp Thẩm phán diễn án theo Pháp luật Nhật Bản.
· Tiếp tục thực hiện hợp tác giai đoạn 3 với JICA
Hợp tác với Cộng hòa dân dân Lào
· Cử cán bộ sang công tác tại Trung tâm đào tạo Thẩm phán Bộ Tư pháp CHDCND Lào để giúp bạn xây dựng chương trình đào tạo;
· Đào tạo cho bạn Lào 4 học viên Thẩm phán;
· Cử chuyên gia tư vấn xây dựng chương trình đào tạo Luật sư.
Liên kết ngoài:
Trang chủ học viện